Thầy Hằng Trường
Một luồng gió mới tu học Phật pháp thổi vào vùng DC
Nguyên Tu
Sau 34 ngày khô hạn, cây cỏ héo úa, lá thu cũng đổi màu chậm chạp và xám xịt vì thiếu mưa thì bỗng tiếp theo là rỉ rả mưa lạnh liên tục suốt tuần. Ban tổ chức đón tiếp Thầy Hằng Trường và phái đoàn họp ngày họp đêm suốt tháng nay tỏ vẻ lo ngại chương trình hoằng pháp của Thầy sẽ bị thay đổi địa điểm vì thời tiết không thuận lợi. Số người ghi tên tham dự đã lên đến 600, ngoài sự ước tính của ban tổ chức. Anh Lê Dũng, người đứng đầu phối hợp ở vùng DC này đành khóa sổ ghi danh. Cơn mưa lại xối xả nặng hạt hơn khi máy bay Thầy đáp xuống phi trường thủ đô Hoa Thịnh Ðốn. Phải chăng đó là ân huệ mưa móc của Thầy mang lại tưới tẩm cho vạn vật.
Ðúng sáng ngày khai khóa hôm sau, ngày thứ Bảy (27 tháng 10, 2007), những tia nắng ấm bắt đầu lóe lên tươi cười cùng với dòng người đông đảo tụ về Mc. Lean High School, VA. Cây cỏ đổi màu lóng lánh muôn sắc như thay áo mới rộn ràng tươi tắn ngày hội. Thầy xuất hiện nổi bật với nụ cười trẻ trung trên bục phòng tập, dáng người cao ráo như một dũng tướng bao quanh bởi 30 quân sĩ hắc y đồng phục. Các anh chị là những huấn luyện viên hăng hái đầy nhiệt huyết, là thành viên của hội từ bi phụng sự do Thầy thành lập tình nguyện đến từ Nam Bắc Cali, Houston, Dallas, Montreal, Canada...
Sau lời chào hỏi với giọng nói đặc sệt xứ Huế-Sịa thân tình và đầm ấm thương yêu, Thầy giới thiệu Pháp môn Tài Chi tổng hợp (Integral Tai Chi: ITC) của Thầy với sứ mạng huấn luyện để đạt tới sự hài hòa của thân thể, tinh thần và linh tánh. Triết lý chủ đạo là Tu toàn diện (xuất tục và nhập thế).
Thầy giảng thêm rằng mục đích của môn tập Càn Khôn Thập Linh là để điều hòa tác dụng của các cơ quan nội tạng, là giảm bớt căng thẳng, trị hết đau nhức, giữ được tâm lý hài hòa, khôi phục sức khỏe toàn diện, tăng cường trí nhớ.
Nhìn cái logo sau lưng chiếc áo đen của mỗi huấn luyện viên thì ta có thể hiểu ngay ý nghĩa tu toàn diện của Thầy. Một tâm hồn trong sạch trong một thân thể tráng kiện. Vòng tròn bao quanh, bởi tâm lý, trí năng, cho thân thể nằm ở giữa. Cây đuốc phía trên là tâm linh, phía dưới là xã hội, cho biết rằng huấn luyện thân thể khỏe mạnh là điều căn bản tối cần thiết trước tiên. Phương pháp trau dồi thân thể của Thầy phối hợp cả Tài Chi, Yoga và khí công được gọi là tài chi tổng hợp.
Sau đó chúng tôi được phân chia thành 2 phòng tập lớn do hai huấn luyện viên trưởng chỉ dạy, bên nam là Bác sĩ Hiển, bên nữ là chị Sheila, xen kẽ giữa các hàng là các anh chị huấn luyện viên áo đen tận tình sửa đổi cho chúng tôi từng động tác tay chân và hơi thở.
Hai buổi sáng 27 và 28 tháng 10 không đủ thì giờ để tập hết 10 thế của Càn Khôn Thập Linh. Tuy nhiên, tôi cũng xin giới thiệu tóm gọn ý nghĩa của toàn bộ môn và từng thế của Càn Khôn Thập Linh qua DVD của Thầy.
Người Trung Hoa từ 4000 ngàn năm trước đã khám phá ra các kinh mạch và huyệt đạo mà khi kích thích để điều hòa năng lượng cho thông suốt thì có thể chữa nhiều bệnh. Ðó là cách chữa bệnh bằng châm cứu hay bấm huyệt còn rất thông dụng đến bây giờ. Yoga của Ấn Ðộ thì lại chú trọng đến nguồn năng lượng qua 7 luân xa dọc theo xương sống từ xương cụt lên đến đỉnh đầu. Ðó là 7 trung tâm năng lựccủa cơ thể tương ưng với 7 tuyến nội tiết là: tuyến sinh dục, đan điền, tuyến tuỵ, tuyến ức, tuyến giáp trạng, tuyến tùng và tuyến yên. Tựu trung cả 2 quan niệm đều có mẫu số chung là năng lượng con người phát sinh theo cột xương sống. Khi mà năng lượng được phát sinh theo thứ tự từ dưới lên trên, thì sinh lý và tâm lý cũng như tâm linh theo đó phát triển lên cao, cái nhãn quan từ bi trí tuệ được mở rộng, cuộc sống sẽ thăng hoa an lạc hạnh phúc.
Thầy Hằng Trường dùng một con vật để tượng trưng cho mỗi thế tập.
1- Thế thứ 1: Càn hay là Trời, là Dương. Vận chuyển nhịp nhàng để phát sinh năng lượng từ vùng đan điền phía trước, mạng môn phía sau giúp luân chuyển kích thích các luân xa dọc theo xương sống. Từ đó sức đề kháng của cơ thể mạnh khoẻ hơn để có thể hành hóa giúp đời.
2- Thế thứ 2: Thế con Cóc ở xương cụt (S5), huyệt Trường Cường. Con cóc ở đáy giếng nhảy ra khỏi miệng giếng ý nghĩa là vượt ra màng vô minh. Luân xa số 1 này liên hệ đến thận và bộ phận sinh dục. Tác dụng có thể làm tăng hệ thống miễn nhiễm.
3- Thế thứ 3: Thế con Trâu (Luân xa 2) huyệt Mạng môn (L2). Luân xa này nằm ở vị trí L2 sau lưng (Mạng môn), tương ứng với vùng đan điền phía trước. Chân con trâu dính bùn, là dính với dục lạc thế gian có thể được chuyển hóa tích cực, bỏ bớt tham đắm ngũ dục để buông xả, mở rộng cõi lòng. Ðan điền là nơi tập trung khí huyết quan trọng mà các thiền sư đưa khí vào với hơi thở để điều hòa năng lượng toàn thân.
4- Thế thứ 4: Thế con Hạc (Luân xa 3). Luân xa này nằm ở vị trí D9 (cân súc) ở đốc mạch tương ứng với huyệt thượng quản (solar plexus) ở nhâm mạch. Hạc là con vật bay bổng trong bầu trời bao la, không gian thênh thang có ý nghĩa là khiêm cung, bao dung tha thứ chứ không còn ích kỷ, hẹp hòi bởi cái ngã. Thế tập con hạc giúp quân bình chức năng của gan, lá lách, tụy tạng.
5- Thế thứ 5 và 6: Thế con Rồng và Phượng Hoàng (Luân xa 4). Luân xa này nằm ở vị trí D5 (thần đạo) ở đốc mạch tương ứng trước với huyệt tử cung (19) ở trước ngực, nhâm mạch. Long Phụng biểu hiện 2 thái cực Dương và Âm. Con rồng là cực dương tượng trưng cho cứng rắn. Con hạc là cực âm tượng trưng cho sự mềm mỏng uyển chuyển. Thế con rồng giúp ta chặt đứt được cái ngã to lớn như núi tu-di (luân xa 3) thấy được chân tâm bản tánh để rồi bay lượn lên cõi thiên, thênh thang, tự do. Về sinh lý học, thế này giúp ta điều hòa hệ thống tuần hoàn tim mạch. Con phượng có tác dụng chế ngự con rồng, mềm mại, uyển chuyển, nuôi dưỡng và nâng đỡ sức mạnh của rồng. Thế con rồng giúp diệt ngã, thế con phượng mang lại năng lực của từ bi. Luân xa thứ 4 này quan trọng vì vị trí nằm giữa bảy luân xa 3 ở trên và 3 ở dưới.
6- Thế thứ 7: Thế con Cọp (Luân xa thứ 5) Luân xa này nằm ở vị trí C7-8 tương ứng với tuyến giáp trạng ở cổ họng. Ái ngữ, truyền thông tốt đẹp, sáng tạo, hợp nhất trung đạo là ý nghĩa của thế tập này. Con cọp phải được huấn tập để vượt ra khỏi rừng rậm rối ren, nghĩa là vượt tất cả khái niệm. Thế tập này tạo ra nhiều năng lượng nên đòi hỏi thiền sinh cần tu tập hành thiền giỏi.
7 - Thế thứ 8: Con Bươm Bướm: (Luân xa thứ 6) Luân xa này nằm ở con mắt thứ 3, giữa 2 chân mày tương ứng với tuyến tùng trong não. Thân con bươm bướm tượng trưng cho dục lạc thế tục, 2 cánh bướm tượng trưng cho tinh thần bay bổng tự do, không còn bị ràng buộc, nhẹ nhàng siêu thoát. Thiền sinh cần có khả năng chánh niệm và định cao để đưa thân tâm về một mối. Ðạo Phật thường nói đến tam giới, thì luân xa số 1,2,3 là dục giới, 4,5,6 là sắc giới, luân xa số 7 là vào được cõi vô sắc giới.
8 - Thế thứ 9: Con Rùa: (ở đỉnh đầu, huyệt bá hội) Tương ưng với tuyến yên trong não. Rùa là con vật có thể ở trên cạn hay lặn vào biển sâu. Năng lượng của thế này có thể giúp lưu chuyển từ luân xa số 1 lên số 7 hay ngược lại. Ðó là hạnh của Bồ-tát Ðại-thừa tự giác giác tha, bất nhị, là trí tuệ bát-nhã, là đại từ, đại bi.
9- Thế thứ 10: Ðất là âm. Thế này nhu mì, mềm dịu, bất nhị vượt ra khỏi sinh tử. Ðiều đáng chú ý, là vận chuyển tay chân, hơi thở... đều phải ăn khớp với mỗi động tác. Mỗi thế đều có một khẩu quyết (bài kệ) riêng biệt có ý nghĩa sâu xa rút từ lời dạy của Ðức Phật làm cho người tập vừa được sức khỏe, vừa được hiểu rõ giáo lý, rủ bỏ lo âu phiền não để được an lạc hạnh phúc. Hơi thở vào của mỗi thế thường được đưa vào ngay luân xa tương ứng phía trước. "Tẩy trừ phiền não, Buông xả vạn duyên, Khai mở tâm lượng, Trở về nhà Phật" là một trong 10 khẩu quyết điển hình khi tập thế con trâu.
Ngoài 10 thế Càn Khôn Thập Linh còn có 10 thế dưỡng sinh thập huyền cho người trên 60 tuổi, cũng như những thế yoga, các pháp môn thiền định, khai mở trí tuệ, tâm linh cho các lớp cao cấp, cho các thiền sinh đã làm chủ được thân và tâm...
Sau mỗi lần tập đủ các thế, Thầy chú trọng đến Thiền buông thư, nằm thư giãn từng bắp thịt từ đầu đến chân, buông xả các vọng tưởng. Thiền sinh có thể quán tưởng đến những bộ phận bị đau yếu trong cơ thể bị tan rã hòa vào lòng đất, rồi quán tưởng một năng lượng khỏe mạnh của vũ trụ đi vào trị liệu các bộ phận già nua bệnh hoạn đó. Vì vậy người tập cảm thấy thoải mái từ thể xác đến tinh thần. Thầy cho biết nhiều bệnh nan y như cao máu, tiểu đường... đã được giảm rất nhiều sau một thời gian chuyên cần tập luyện.
Ðiều mới lạ tiếp theo mà tôi muốn ghi lại đây là phương pháp Thiền Trà: Uống trà, kiến tánh rất đặc biệt, đầy sáng tạo của Thầy. Cũng phải phước duyên lắm mới vào được lớp này, vì chỉ thu gọn vỏn vẹn 40 người thì chỉ 20 người được trực tiếp thực tập.
Chúng tôi yên lặng ngồi trên bồ đoàn và được Thầy giảng giải:
Chén trà đại biểu cho thân thể. Trà biểu tượng cho tâm, có thể là vọng tâm hay bồ-đề tâm. Vọng tâm là khi tâm khởi lên đủ loại vọng tưởng. Bồ-đề tâm tức là tâm hướng thượng. Khi bồ-đề tâm hiện khởi là lúc tâm thanh tịnh.
Chén trà trống rỗng, không có trà, có nghĩa là thân tâm rỗng rang. Chén có trà biểu hiện lúc tâm đã sinh thành, có thể là vọng hay thanh tịnh. Khi tâm thanh tịnh sáng suốt là lúc bồ-đề tâm hiện ra. Khi uống trà, mình với chân tâm hợp nhất thành một mối nhất như.
Theo định nghĩa của Thầy thì Thiền Trà là cách uống trà theo lối thiền và trà thiền có nghĩa là hành thiền lúc uống trà. Nghi thức thiền trà có 4 giai đoạn:
1- Chiếu tâm: Soi chiếu tự tâm trước khi uống.
2- Thấy tâm: Là kết quả của chiếu tâm, nhận được chủ thể bản ngã.
3- Hiện tâm: Tức là ảnh hiện tâm mình trong chén trà.
4- Nhất tâm: Tức là lúc trà khách uống trà.
Nếu trà khách tự biết mình có vọng tâm thì đẩy chén trà ra xa trước mặt mình. Nếu trà khách biểu hiện được chân tâm thì để nguyên chén trà tại chỗ. Trà sư sẽ rót trà đậm có mùi vị quyến rũ cho người có vọng tâm, và trà lạt có mùi thanh nhẹ cho người biểu hiện được chân tâm. Thầy cho phép thực tập lần thứ 2 như trên để trà khách có cơ hội thêm một lần nữa, có ý rằng trên đời, chuyện gì cũng có một cơ hội thứ 2, không phải tuyệt đối hay tuyệt vọng. Thầy nhấn mạnh rằng uống trà là trực nhận trạng thái của tâm ngay trong một hớp trà. Ðối tượng của sự trực nhận là gì, hoặc là vọng tâm, bồ-đề tâm hay chân tâm, điều đó không quan trọng bằng chính sự trực nhận. Vì sao? Vì trực nhận chính là Thiền. Do vậy, dùng động tác uống trà để xoay tâm trực nhận bản tánh, đó tức là Thiền trà. Chúng tôi hy vọng sẽ được thực tập nhiều lần. Ít ra cũng nếm được mùi trà trong bầu không khí đạo vị bình an của thân và tâm dù trà có đậm đặc ngọt ngào, nghĩa là còn đầy vọng tưởng.
Hai buổi thuyết pháp với đề tài: "Thế nào để được vãng sanh?" vào chiều 27 tháng 10 và TV Khai Tâm với đề tài "Phong thủy trong cái nhìn Phật giáo" vào chiều 28 tháng 10, 2007 không còn một chỗ trống trong giảng đường 500 người.
Ðó là 2 đề tài ăn khách vì ai chết cũng mong muốn vãng sanh về cõi Tịnh độ, ai mua nhà cũng mong muốn có được phong thủy tốt hầu làm ăn thịnh vượng, gia đạo yên vui. Từ nơi hiếu thị của quần chúng, Thầy đã khôn khéo đưa khán thính giả vào con đường tu tập để chuyển hóa thân tâm. Dù chi đi nữa cũng không tránh được “nghiệp lực”. Nhà cửa của những người đầy đủ thiện nghiệp thì tự nhiên sẽ “thông” và “thoáng” như tấm lòng của họ vậy. Sửa cánh cửa, xoay chiều cái bếp cũng không bằng sửa cái tâm, xoay cái tâm lại. Chịu ảnh hưởng của dòng Thiền Trung Hoa hoà đồng với tam giáo nên pháp môn Tịnh độ từ thời nhà Minh (1368-1628) và nhà Thanh (1610-1902), cũng như của Mật tông đã thể hiện qua những bài giảng của Thầy. Tịnh độ, Mật hay Thiền cũng chỉ là một. “Tâm tịnh thị độ tịnh”.
Phương pháp giảng Pháp bằng projector chiếu lên màn ảnh và phương pháp giảng bằng cách khuyến khích các thính giả đặt nhiều câu hỏi tạo nên một không khí sống động vui tươi, hòa hợp tự nhiên, không nhàm chán hay buồn ngủ, giúp dễ nhớ và giải tỏa nhiều thắt mắc.
Buổi trực tiếp truyền hình Khai Tâm gồm có Thầy và đệ nhất đệ tử là Bác sĩ Hiển, ngồi bên phải. Cô Anh Trâm, tiếng nói của đài SBTN duyên dáng ngồi bên trái, những đại diện của vùng Washington DC: Anh Ðinh Hùng Cường khuôn mặt năng nổ của cộng đồng thủ đô, cô Diệu Phú, một phật tử thuần thành rồi đến Bác sĩ Tôn Thất Châu, chủ tịch hội từ thiện Thiện Tâm, cô Mỹ Lạc phối hợp viên chương trình Hope của giới trẻ. Không có phút giây nào mà không có những tiếng cười thoải mái của khán thính giả vì Thầy nhanh nhẹn, dí dỏm, sắc bén, thông minh trả lời từng câu hỏi. Ðó là ưu điểm đặc biệt chỉ tìm thấy được ở Thầy Hằng Trường, một ông thầy tu Phật giáo hoằng pháp độ sinh trẻ trung, tươi mát, tự tại, thích hợp với thời đại đương thời, lôi cuốn đủ mọi thành phần gái trai, già trẻ và nhất là giới trí thức.
Buổi tập luyện vào ngày cuối nhằm ngày đi làm việc tại trường đại học Nova/Annandale cũng thu hút hơn 300 người đến tham dự. Nhận thấy người lớn tuổi chiếm trên 60% nên Thầy chuyển qua dạy môn "Dưỡng Sinh Thập Huyền" tương đối nhẹ nhàng hơn dành riêng cho người trên 60 tuổi.
Thế thứ nhất có ý nghĩa là “Ẩn ác, Dương thiện” chỉ nghĩ và nói đến những điều tốt của kẻ khác.
Thế thứ 2 có ý nghĩa là quên khá khứ vui hiện tại.
Thế thứ 3 có ý nghĩa là bỏ gánh nặng, sống thung dung. Ðồng hồ đã điểm một giờ chiều không cho phép tiếp tục sử dụng căn phòng nữa, nên tất cả mọi người đều theo Thầy ra công viên Great Falls, picnic theo chương trình dự định. Nào chụp hình kỷ niệm, nào chuyện trò, nào ca hát, hò lơ, hò hụi của giáo sư Kim Oanh. Thầy và đại chúng tận hưởng gió thu xào xạc lá vàng rơi mát mẻ chan hòa nắng ấm giữa bầu trời bao la bát ngát, rì rào thác nước hùng vĩ sủi bọt trắng xoá xối xả xuyên vách đá nhỏ to tô sắc điểm phấn thêm cho vẻ đẹp muôn màu thiên nhiên nhiệm mầu. Ôi là hạnh phúc tuyệt vời.
Chị Mộng Hoa bộc phát vài lời tạ ơn Thầy, xúc cảm từ trái tim rung động đầy an lạc. Thầy là bóng mát giữa trưa hè, là giọt nước cam lồ của kẻ lữ hành lạc vào sa mạc, là la bàn của ghe thuyền trôi dạt trên biển cả, là tiếng chuông vang vọng giữa đêm trường thức tỉnh nhiều người con Phật ở vùng Hoa Thịnh Ðốn...
Ba ngày sinh hoạt trôi qua nhanh chóng, tưởng là đã qua. Nhưng phước duyên nào tự nhiên đến. Ngày tiếp theo, trong lúc các huấn luyện viên du ngoạn vùng thủ đô thì Bác sĩ Hưng cùng chị Ngọc, chị Châu và vợ chồng chúng tôi được Thầy ưu ái tiếp chuyện. Hơn cả giờ đồng hồ, Thầy đặc biệt tận tình dạy cho chúng tôi 2 thế con Trâu và con Rồng với hơi thở khác với trong DVD có diệu dụng chữa trị các mạch máu tim bị nghẽn. Buổi cơm trưa dưới nắng thu ấm áp trên bãi cỏ xanh với các món ăn đậm đà do cô Nguyệt nấu nướng đem tới kéo dài đến xế chiều thật là ngon miệng. Thầy không dùng cơm tối nên buổi ăn trưa là buổi ăn chính.
Qua những lời trò chuyện Thầy cho biết Thầy đã có duyên với Phật pháp từ lúc còn trẻ, lúc “Bọ” của Thầy đau ốm ở Saigon. Người dân xứ Huế thời 1950-60 ít ai mà không biết “Bọ” của Thầy, Bs. Lê Khắc Quyến, khoa trưởng đầu tiên của Ðại học Y khoa Huế, một lương y mát tay, yêu nước thương nòi. Trong những ngày buồn tẻ sau 75, Thầy đã có duyên đọc tạng Ðại Bi Kinh ở tuổi 14. Năm 20 tuổi Thầy xuất gia ở Vạn Phật Thành với HT. Thích Tuyên Hóa, một thiền sư chứng đắc lỗi lạc, đệ tử truyền thừa của ngài Hư Vân.
Sau hơn 10 năm làm thị giả cho ngài Tuyên Hóa, Thầy gặp một tai nạn, bị khiển trách nặng nề, chỉ vì một nhân viên quản lý dưới quyền điều khiển của Thầy, vi phạm luật lệ hành chánh. Trong suốt 3 tháng trời Thầy phải quỳ 8 giờ một ngày trước đại chúng để nhận các lời khiển trách có khi rất là thậm tệ. Cái ngọn núi tu-di “ngã” của Thầy nhờ được thế đã được dùi mài khá phẳng phiu.
Sau tai nạn khủng khiếp ấy Thầy ra khỏi chúng và có cơ hội nhập thất 3 năm tại Haiwai để xiển dương kinh Hoa Nghiêm. Ðó là thể nguyện ước mong của Thầy đã được ngài Tuyên Hóa chấp nhận trước đó vài năm. Vì vậy Thầy cho đó là một nghịch tăng thượng duyên đã được ngài Tuyên Hóa vạch định sẵn. Thầy trưởng thành mạnh mẽ nhờ nghịch duyên đó. Một đôi khi có ý nghĩ thiếu chánh niệm thì cell phone của Thầy bỗng reo lên vô cớ mà Thầy cho rằng ngài Tuyên Hóa vẫn còn hiện diện sát cạnh Thầy để nhắc nhở và sách tấn.
Năm 2002, Thầy sáng lập hội Từ Bi Phụng Sự (CSS: Compassionate Service Society) hiện phát triển rất mạnh qua những công tác xã hội từ thiện của Thầy ở các nước vùng Ðông Nam Á. Thầy đã đích thân đến Sri Lanka để cứu trợ kịp thời những nạn nhân của thiên tai tsunani 3 năm trước. Thầy là một trong 3 sáng lập viên Tĩnh Tâm viện Hana ở Maui, Haiwai mục tiêu là mời các lãnh tụ tôn giáo trên thế giới đối thoại, tạo sự hài hòa cảm thông giữa các văn hóa dị biệt.
Chữ Ce đặt trước tên Hằng Trường chỉ là thu gọn tên của Thầy "Trường hay Tràng" mà người tàu đọc là: Chang". Thầy lấy chữ C của "Chang" và thêm chữ "e" nhỏ bên cạnh cho dễ đọc.
Trong chuyến đi thăm Lộc Uyển - San Diego ngày 7 tháng 9 năm 2007 về, Thầy không ngần ngại khẳng định với đại chúng và học trò của Thầy rằng sư ông Làng Mai là một vị Ðại Bồ-tát mà có người cả trăm năm hay ngàn năm sau mới nhận rõ. Trong đoạn đường hoằng dương của Thầy cũng gặp nhiều chống đối phỉ báng đủ điều. Lập hạnh bồ-tát thì phải biết an nhiên tự tại, thỏng tay vào chợ. Thầy nói: Nhiều người mê muội cố chấp đến nổi Bồ-tát Quán Thế Âm ngồi bên cạnh mà không biết.
Nếu không biết đem đạo Phật nhập thế thích nghi với trào lưu tiến hóa nhanh chóng của nhân loại thì đạo Phật cũng sẽ chỉ phục vụ cho những người mê tín dị đoan, những người chỉ biết cầu xin bái sám.
Ở nước ngoài, pháp môn "Hiện pháp lạc trú", "Tịnh độ bây giờ và ở đây" của sư ông Làng Mai và của sư ông Kim Sơn - San Jose, trung tâm Phổ Từ Hayward và một vài nơi ít ỏi là đáp ứng được bộ óc khoa học hiện đại của con người trong chiều hướng tâm linh. Ở Việt Nam, chùa Phật Quang ở núi Dinh, chùa Hoằng Pháp - Hóc Môn, chùa Bát Nhã - Bảo Lộc đã xuất hiện những vị tu sĩ tài năng đức hạnh, có chiều hướng hoán chuyển đầy sáng tạo để trực tiếp giảng dạy giáo lý cứu khổ của Ðức Thế Tôn. Tinh thần bảo thủ của một số tôn túc chỉ biết lo chùa to phật lớn, tranh giành chức vị trong giáo hội, chia chẻ sinh hoạt thuần túy “Bi Trí Dũng” của gia đình phật tử sẽ bị thời gian đào thải. Chùa chiền rồi cũng sẽ vắng tanh đi đến phá sản như một số nhà thờ bên Mỹ hiện tại vì không đem lại hạnh phúc thiết thực trong cuộc sống mà chỉ hứa hẹn một niết-bàn hay thiên đàng mơ hồ trên mây.
Ðạo Phật của thế kỷ 21 cần có những ngôi sao xuất hiện như Thầy Hằng Trường thiết thực đem lại an vui hạnh phúc, chuyển hóa những khổ đau của thân và tâm ngay trong cuộc sống hiện tại vậy. |