Huế, những ngày rét mướt
Ghi chép của Trần Tiến Dũng
Những ngày cận Tết Mậu Tý, Huế rất lạnh. Bản tin tổng hợp thời tiết kết luận, nhiệt độ thấp kéo dài ở Huế và các tỉnh phía Bắc bằng với năm 1968. Có nghĩa là sau hơn bốn mươi năm, Huế nói riêng lại đón nhận cái rét nhức nhối tận xương tủy.
Thấy và nghe nhức nhối
Nơi chúng tôi ở là vùng ven thành phố Huế. Ði hết con đường nhỏ Nguyễn Hoàng, qua cái cầu xi măng hẹp là đến một vùng gồm những cư dân lam lũ trong cảnh nửa chợ, nửa quê. Như những vùng quê khác, nơi đây có nhiều quán nhậu, quán cà phê đèn mờ, nhưng không thấy sạp báo, không có điểm Internet nào. Chỉ cách thành nội mười ngàn tiền xe ôm, vậy mà toàn bộ thông tin của một làng quê ở đất cố đô, lệ thuộc vào cái loa sắt đời mới treo ở các cây cột đèn, cột tre. Giữa thế kỷ 21, giữa thời đại bùng nổ thông tin toàn cầu, vậy mà từ 5 giờ sáng, cái loa sắt ngang nhiên đánh thức mọi người để thực hiện độc quyền tra tấn thông tin.
Hôm đầu tiên tôi có mặt ở làng Trúc Lâm, cái loa này vẫn ra rả giọng điệu tuyên truyền về “chiến thắng Mậu Thân”. Giọng điệu cũ xì nhưng âm sắc vẫn nguyên giọng sắt máu, cứ léo nhéo, hoành hành lỗ tai của người dân quê hiền lành y như hơn ba mươi năm trước. Ðất nước hòa bình trong tay kẻ thắng, đồng nghĩa với việc tha hồ nhắc lại thành tích và hận thù. Ðồng nghĩa với việc trắng trợn xóa đi những linh hồn chết oan của những người vô tội từ các hố chôn tập thể tại chính thành phố này.
Khi cái loa sắt hết giờ tra tấn. Ông Trần Dật mời tôi ra bàn uống cà phê sáng. Tôi không hứng thú gì khi trong đầu vẫn còn vo ve giọng điệu tuyên truyền. Tôi nói với ông. Sau nhiều năm, tôi tưởng đâu thời đại tuyên truyền ấu trĩ bằng loa sắt đã qua rồi. Ðâu ngờ còn nguyên. Sợ quá! Ông nói. Tôi là Việt kiều, cựu sĩ quan VNCH, năm nào về quê cũng phải chịu đựng, khổ lắm, nhưng so với cái khổ mà người làng tôi phải chịu không đáng gì. Rồi ông kể về chuyện ông vừa đi thăm đứa cháu nằm bệnh viện Trung Ương Huế. Ông không nói về bệnh của đứa cháu bà con, ông cũng không làm ra vẻ một Việt kiều, đem so sánh những tiêu chuẩn chữa bệnh của người xứ giàu và xứ nghèo. Ông chỉ nói cái mà ông nhìn thấy lúc ông đi thăm bệnh nhân ở giữa một trung tâm điều trị có thể nói là lớn nhất các tỉnh miền Trung. Ông chỉ nói cái mà người bệnh và người nuôi bệnh phải chịu đựng.
Ông kể: “Lạ đời, họ chỉ cho phép thân nhân nuôi bệnh ở lầu một, ai không có khả năng leo cầu thang thì phải trả tiền đi thang máy mỗi lần một ngàn đồng. Ai biết đút lót cho nhân viên từ hai chục ngàn trở lên thì được cho phép ở chung lầu với người bệnh. Vào nhà vệ sinh mỗi lần cũng phải trả một ngàn, chưa kể tiền phòng, tiền thuốc. Dân nghèo một ngày kiếm chỉ được một hai đô la là nuôi được cả gia đình. Vậy mà lúc nuôi bệnh phải chi hết sạch số tiền đó cho việc đi lên, đi xuống với đái, ị”.
Hơn ba mươi năm từ biến cố 1975. Dưới chế độ cộng sản, đất nước trải qua nhiều biến động nhưng chưa có bao giờ hệ thống y tế và giáo dục nhân cách tại Việt Nam lại khiến cho dân chúng thấy hoảng loạn bằng lúc này.
Sau đó ít hôm, vào đúng đêm Ba Mươi Tết, cũng tại làng Trúc Lâm; có sự kiện một người con đuổi bà mẹ già tám mươi tuổi ra đường. Ðứa con trai duy nhất được bà nuôi ăn nuôi học, nay trưởng thành, lập gia đình và quyết định xua đuổi mẹ mình. Lý do duy nhất mà anh ta không cho mẹ mình ở nhà ăn Tết rất “yêu quái” là: “ Bà ấy không làm ra tiền lại cứ cằn nhằn hoài”.
Góp phần chia sẻ
Tôi có dịp đi với đoàn cứu trợ của gia đình ông Trần Dật và các ni sư ở chùa Ðức Sơn, chùa Tây Ninh... Ở một huyện miền núi của Huế, huyện Phú Lộc. Nhìn cảnh hơn ba trăm đồng bào kinh tế mới và bà con dân tộc Vân Kiều đội mưa phùn gió rét đi nhận quà, những phần quà trị giá không nhiều, chỉ là thùng mì chay, dầu ăn, gói bột ngọt, mười ký gạo và bao lì xì ba mươi ngàn đồng. Nhưng với họ là cả cái Tết. Lúc đọc tên những bà con dân tộc nhận quà. Có ai đó biết chuyện đã nói bên tai tôi: “Người Vân Kiều lấy họ Hồ cả, vậy mà bây giờ ‘cách mạng’ cho họ đời sống cơ cực đến thế này đây. Thật là khốn nạn cho chuyện tuyên truyền bắt người ta luôn miệng cám ơn bác và Ðảng”.
Lúc vào Phá Tam Giang tìm một gia đình dân chài, có hai vợ chồng chết trong trận lũ vừa qua, để lại chín người con cho bà nội già tuổi ngoài bảy mươi nuôi nấng, đứa nhỏ nhất mới sáu tuổi. Chúng tôi được một người đàn ông dẫn đường. Người đàn ông gầy gò này không ruộng, không ghe, nuôi sống gia đình bằng một cửa hàng tạp hóa nhỏ ở giữa vùng quê heo hút. Nhiều người trong đoàn nói: Không có ông thì không cách nào chúng tôi biết đường, biết nhà của gia đình nạn nhân mà tới. Vậy mà lúc tặng cho ông một món quà nhỏ, ông lại từ chối. Ông nói: “Chi rứa! tôi cùng làng, không giúp được chi, nhận thêm xấu hổ”. Cách ứng xử của một người Huế thuần hậu và liêm sỉ như ông không thiếu nhưng cái nghèo, cái khổ cứ trói buộc những giá trị nhân văn trong những người như ông. Những giá trị mà tầng lớp tư sản đỏ và tầng lớp quan lại mới đang phá bỏ.
Ở thôn Mười, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy. Chúng tôi đến thăm một gia đình cha mẹ mất sớm, người chị cả, bà Bùi Thị Bông, không lấy chồng để nuôi ba đứa em trai tàn tật. Cả ba anh em đều không thể đi lại bằng đôi chân, họ phải bò lết từ ấu thơ cho đến lúc đã thành trung niên. Họ chưa lần nào may mắn ngồi trên chiếc xe lăn để biết được làng mình to, nhỏ ra sao. Thực ra, trong số ba anh em tàn tật, có một người từng gặp may. Chuyện may mắn mà anh gặp, có thể sánh với một điều kỳ diệu. Anh có nuôi một con trâu. Nhiều năm trời, vào mỗi buổi sáng, con trâu đều đến thềm cửa, khụy chân trước xuống và chờ anh lết ra, níu sừng, đu lên lưng. Khi anh đã ngồi vững vàng, trâu từ từ đứng lên. Giống như đôi bạn, cả người và vật đi ra đồng. Anh là người duy nhất trong ba anh em biết được cánh đồng làng có gì trong mỗi bình minh. Khi anh đói bụng, anh thều thào, ngọng nghịu nói với trâu: “Mi no rồi, về cho tao ăn ri”. Con trâu như vị thánh hóa thân ấy đi từng bước, cẩn thận đưa anh qua mương, gò về nhà. Thế nhưng sau trận lụt vừa qua, vị thánh hóa thân làm đôi chân cho người tàn tật ấy cũng đã phải đem bán để lấy tiền cho cả nhà có ăn và chạy thuốc. Câu chuyện về thiện căn và số phận của một con vật trong ngôi nhà của ba anh em tàn tật là câu chuyện buồn xốn xang. Không thể trách về chuyện không giữ được nghĩa với con trâu thánh thiện ấy, bởi còn quá nhiều cảnh đời nghèo khổ và nỗi bất hạnh của nhiều người trên khắp đất nước này.
Không riêng gì ông Trần Dật mà nhiều Việt kiều khác, mỗi bận về Việt Nam đều có nhiều chuyện mắt thấy tai nghe về những thực trạng trớ trêu đến mức hoảng hốt của xã hội Việt Nam lúc này. Nhưng tâm trạng chung của những người con xa xứ là rồi họ cũng lại ra đi và để lại tất cả những cảm xúc phức tạp mà họ có trong những ngày đối diện với những vụ việc tồi tệ cũng như thương tâm ở cố quốc. (G.Đ)

1. Bà Bùi Thị Bông và một trong ba đứa em tàn tật.

2. Gia đình ông Trần Dật và một số ni sư ở Huế đang gởi quà Tết cho người nghèo ở huyện Phú Lộc.

3. Một cặp vợ chồng cùng tử nạn trong đợt lụt vừa qua, để lại 9 đứa con cho bà mẹ già đã ngoài 70 nuôi dưỡng. |