Lá Thư Cho Bạn

  

Ðược tin bạn bị stroke. Tâm Diêu rất thông cảm với bạn, một người thích hoạt động nay phải nằm một chổ, có gì buồn hơn. Nhưng Bạn chớ bi quan, chúng ta có thể biến “ Rác thành hoa, thành trái” biết đâu là một dịp tốt Bạn đạt giác ngộ, giải thoát sinh tử, cũng như Tâm Diêu nhờ 13 năm cải tạo mà thấy được lẽ Vô Thường để quay về bến giác.

Phương pháp tu Phật rất nhiều tùy theo căn cơ ( trình độ ) tùy theo tập khí (dày mõng) mỗi người mà chọn một phương pháp tu cho phù hợp.

Người lớn tuổi, ít học, thì nên niệm Phật A DI Ðà cầu vãng sanh về Tây phương Tịnh độ ( niệm thành tiếng hay niệm thầm tuỳ theo hoàn cảnh) niệm tiếng nào nghe lại tiếng đó thì tâm an, không còn vọng niệm lăng xăng phiền não quyấy nhiễu) như đạp gai phải lấy gai khác lấy gai ra khi gai lấy ra rồi thì gai dùng để lấy cũng bỏ luôn. Tâm tịnh thì độ tịnh, Phật A DI Ðà tự tánh sẽ hiển bày. Chúng ta đang sống với tâm đa niệm, phân biệt phiền não, nay gom lại còn một câu niệm Phật, tâm không lăng xăng nữa thì an. Khi tâm được an rồi thì câu niệm Phật cũng không dùng nữa mới hoàn toàn giải thoát. Tất cả Phật pháp là phương tiện, tùy bệnh Phật cho thuốc. Bệnh lành rồi thì thuốc cũng bỏ. Chơn tâm, Phật tánh vốn thanh tịnh, không khởi niệm. Lục Tổ Huệ Năng lấy Vô Niệm làm Tông, vô Tướng làm Tánh, Vô Trụ làm Bổn. Các pháp do nhân duyên sinh, không có tự tánh, luôn luôn biến đổi. Thấy đúng như vậy, thì không khởi niệm phân biệt, không mong cầu, gọi là Vô niệm. Không dính mắc, gọi là Vô trụ. Tâm còn trụ, còn dính mắt thì không an. Như câu “ Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong kinh Kim Cang, mà Lục Tổ đã ngộ lúc đầu (sinh tâm nơi không có chổ trụ), dịch ra tiếng Anh “ The mind must operate without abiding anywhere”.Tiếng Pháp “Eveiller votre mental sans le fixer sur aucune chose.”Khi chúng ta nghĩ, thì phải có đối tượng để nghĩ, tức có nơi trụ. Sinh tâm nơi không có chổ trụ là không nghĩ gì cả, tức tâm thanh tịnh, không khởi niệm mà vẫn thấy biết. Thấy biết mà không khởi niệm đó chơn tâm, Phất tánh, bản lai diện mục của chúng ta.

Còn như Bạn có trình độ có nghiên cứu thì quán chiếu Bát Nhã ( ngũ uẩn giai không). Ngũ uẩn chỉ cho 5 thành phần trong một chúng sanh.( Sắc là phần thể xác.Thọ, tưởng, hành, thức là phần tinh thần) là không. Không nói ở đây, không phải là không ngơ, không có gì hết, mà do nhân duyên hợp thành. Khi còn đủ duyên thì gọi là sống, khi hết duyên thì gọi là chết, không có tánh cố định nên gọi là không. Trong kinh Kim Cang Phật nói “ Nhất thiết hữu vi pháp, như lộ diệc như điển, như mộng huyễn, bào ảnh, ứng tác như thị quán.” Tức các pháp hữu vi như sương như điện chớp, như huyển như mộng, như bóng nước, như thế mà quán.

Sư Vạn Hạnh đời nhà Lý đã diễn tả:”

        Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

        Vạn mộc xuân vinh thu hữu khô.

        Nhậm vận thịnh suy vô bố uý

        Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

        Hòa Thượng Thích Mật Thể dịch.

        Thân như bóng chớp chiều tà

        Cỏ xuân tươi tốt thu qua rụng rời

        Sá chi suy thạnh việc đời

        Thạnh suy như hạt sương rơi đầu cành.

Trong kinh Viên Giác Phật nói:” Chúng sanh vô minh vì nhận thân tâm vô thường sinh diệt là mình” trong khi cái chơn thật bất sanh bất diệt luôn luôn hiện hữu thì bỏ quên” tức nhận giả làm chơn, nên Phật bảo chúng sanh là vô minh điên đảo. Cái hiện hữu sáng suốt không hình tướng, bất sanh bất diệt được gọi là Chơn tâm, Phật tánh, Viên Giác, Bản Lai Diện Mục, tuỳ theo kinh mà gọi. Phật khuyên chúng ta trở về sống với cái chơn thật đó thì an lạc, giải thoát.

Tâm Diêu đang tu “ Phản quang tự kỷ bổn phận sự, bất cầu tha đắc” tức quan sát lại tâm mình. không tìm cầu gì bên ngoài để được. Những nghĩ tưởng lăng xăng trong đầu buồn vui thương ghét, đều được ghi nhận, đang diễn biến ra sao thì chúng sẽ biến mất, không đủ lực sai khiến chúng ta tạo nghiệp. Sở dĩ luân hồi sinh tử là do nghiệp dẫn. Có ba nơi tạo Nghiệp đó là thân, khẩu, ý nhưng Ý là chính. Ý lành, thì nói lành, hành động lành, ý dữ, miệng nói ác, hành động ác. Ý dừng thì nghiệp dừng . Nghiệp dừng thì giải thoát sinh tử . Tổ Bồ đề Ðạt Ma khi qua Trung Hoa, Huệ Khả đến xin Tổ cho một pháp an tâm , Tổ bảo đem tâm ra cho Ta an cho. Huệ Khả quay lại tìm tâm, thì tâm lặng mất, rồi thưa với Tổ “ Con tìm tâm không ra” Tổ bèn nói “ Vậy ta an tâm cho ngươi rồi đó”. Từ đó Huệ Khả biết lối tu, nên tâm được an, không còn vọng niệm lăng xăng nữa, chỉ còn một cái biết lặng lẽ chiếu soi trong tâm. Sau này được Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma trao truyền y bát, thành Tổ thứ hai của Trung Hoa, kế tiếp Huệ Khả trao truyền y bát cho Tổ Tăng Xán, Tăng Xán tuyền cho Ðạo Tín, kế đến là Hoàng Nhẫn. Ðến Tổ thứ sáu là Huệ Năng mới không truyền y bát nữa. Khi Tổ Hoàng Nhẫn trao y bát cho Huệ Năng, thì có thầy Huệ Minh, một viên tướng về hưu, tu học với Ngũ tổ đã lâu mà không được truyền y bát, bèn ghen tức đuổi Huệ Năng lấy lại. Nhưng khi Huệ Năng để y bát trên một mô đất thì Huệ Minh dỡ lên không được mới biết y bát là vật thiêng liêng, bèn thưa với Huệ Năng rằng “ Huệ Minh vì pháp mà đuổi, chớ không phải y bát. Huệ Năng núp trong bụi đi ra và nói nếu vì pháp thì hãy nghe đây. “ Không nghĩ thiện, không nghĩ ác cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh.” Huệ Minh tỉnh ngộ biết lối vào để tu. tức là dừng suy nghĩ lăng xăng để trở về sống với tâm chơn thật, bất sanh bất diệt, luôn luôn hằng hữu, sáng suốt chiếu soi, nơi mỗi người. Tánh chơn thật đó qua mắt thì thấy, qua tai thì nghe, qua mũi thì biết mùi, qua lưỡi thì biết vị, qua thân thì biết xúc, suy nghĩ lăng xăng trong tâm ( gọi là pháp trần) thì nó cũng biết. Ví dụ chúng ta đang suy nghĩ gì đó, người khác không biết nhưng chính chúng ta có cái biết lặng lẽ tức (Tánh Giác) biết chúng ta đang suy nghĩ lăng xăng tốt xấu đó. Trong kinh thường nói, khi chết xuống âm phủ tội lỗi chúng ta không thể dấu Ông Diêm Vương. Ông Diêm Vương là cái chơn tâm, Phật tánh chớ không ai vào đó mà biết.

Chúng ta khổ vì bỏ gốc theo ngọn. Khi sáu căn tiếp xúc sáu trần bên ngoài, liền phân biệt tốt xấu, khen chê mà quên cái gốc “Tánh Giác”. Nhờ “Tánh Giác” tức cái biết lặng lẽ mà ta thấy, nghe, ngữi, xúc... Nhờ cái biết lặng lẽ đó mà chúng ta biết mọi sự vật bên ngoài. Nếu không có Tánh Giác thì chúng ta thành đất đá vô tri. Cái phân biệt khen chê tốt xấu là do nghiệp thức huân tập mà có, mỗi người mỗi khác, đôi khi trái ý nhau. Nếu mình chấp nó là thật, thì ai nóiù gì trái ý thì mình hờn giận. Gặp vấn đề sống chết thì oán thù không dứt. Người ăn mặng quen miệng nay dọn lên đồ ăn lạt là khó chịu, trái lại người quen ăn lạt nay đồ ăn dọn lên mặng là không vừa ý. Tùy theo tuổi tác, phong tục tập quán, môi trường sống, trình độ kiến thức của mỗi người mà có cái suy nghĩ hiểu biết khác nhau, nếu chúng ta sống chung mà không dung hòa thông cảm để sống thì sẽ có xung khắc phiền não xảy ra. Do nghiệp mà mỗi loài thấy biết khác nhau. Chúng ta là nghiệp người thấy vàng bạc, hột xoàn là quý, nhưng đối con chó con mèo coi như sỏi đá. Trái lại những đồ hôi hám mình thải ra chúng cho là thơm tho và dành nhau. Một cô gái trẻ đẹp, đối kẻ si tình là bà hoàng của lòng anh, đối người tu thiền quán là đảy da chứa đồ hôi thúi. Ðối với con chó sói là miếng mồi ngon. Trâu bò ăn cỏ, nếu đưa thịt nướng, cá chiên vào miệng chúng sẽ hất ra. Ngay cùng loài người mà sở thích cũng khác nhau. Kẻ cho xoài riêng là thơm ngon, người khác ngưởi không vô chớ nói đến ăn vào. Ngay đối vớ Bạn những tranh của Van Gogh hay Picasso cho là quý, người ta đấu giá đến cả hàng chục triệu đô la để mua cho được, nhưng đem cho bà bán ve chai bà chẳng thèm lấy vì không dùng gì được . Ðến đây Bạn đã phân biệt cái gì là thật, cái gì là giả, tạm bợ trong con người của chúng ta rồi. Vậy chúng ta đừng đồng hóa “Ta” với cái sinh diệt, giả tạm do khi có, khi không, mà sống với cái chân thật bất sanh bất diệt. Lấy cái chơn thật đó mà quán sát lại thân tâm sinh diệt từng sát na để đừng lệ thuộc nó thì giải thoát sinh tử. Ðau ở đâu? đau ra sao, mức độ nào thì ghi nhận rõ ràng thì cái đau sẽ tan biến, tâm sẽ an. Luôn luôn sống trong tỉnh giác, tỉnh giác khi suy nghĩ, khi nói năng, khi hành động, đi đứng nằm ngồi đều biết. Khi ăn biết ăn, khi nhai biết nhai, gắp thức ăn biết gắp.

Bên này phật tử đến chùa, Tâm Diêu thường nhắc nhở lái xe chỉ biết lái xe, chớ nghĩ gì khác nên ít bị tai nạn. Chữ Phật được định nghĩa là Giác. Ông Phật là giác giả 100% còn chúng mình khi giác khi mê, có lẽ mê nhiều hơn giác. Nhiều bà nội trợ nấu cơm để cơm khét là thiếu tỉnh giác. Họ đang nấu cơm mà tâm họ miên man suy nghĩ chuyện này chuyện nọ, quên đang nấu cơm đến khi có mùi khét mới thức tỉnh. Những người sống như vậy, gọi mộng ban ngày. Phật khuyên chúng ta sống trong hiện tại, quá khứ thì đã trôi qua, tương lai thì chưa tới. Làm việc hay nghiên cứu học hành với tâm tỉnh giác thì sẽ thành công, ít bị lầm lỗi. Tâm Diêu quan sát Phật tử đến chùa, nếu Phật tử nào được hướng dẫn tu tập chánh niệm ( tỉnh giác) thì dày dép để có thứ tự ngăn nắp, cắm nhang vào bát hương cũng được ngay ngắn. Trái lại những Phật tử chưa được hướng dẫn tu tập chánh niệm thì dày dép để lộn xộn, chiếc cao chiếc thấp, cắm nhang thì xiêu vẹo không thẳng, lạy thì lụp chụp vội vã. Quý thầy được tu tập chánh niệm thì đì đứng nằm ngồi luôn luôn chậm rãi và trang nghiêm.

Nếu bạn còn đọc được, thì nên đọc kinh sách Phật để nhìn sự vật cho đúng như nó hiển bày, thấy sao ghi nhận vậy, nếu khởi tâm phân biệt là có sự sai khác, không ai giống ai. Ví dụ một cây thông ở trước sân. Khi mới trông, thì ai ai cũng biết đó là cây thông. Nhưng khởi tâm phân biệt, thì người thợ mộc nghĩ cây này làm bàn ghế thì tốt lắm. Người họa sĩ thì cho vị trí cây đó chưa đúng chổ, chưa đẹp. Thi sĩ thì nghĩ đến bóng mát và tiếng thông reo trong nắng hạ.v.v. Phật cho tâm phân biệt là vọng niệm. Ðã vọng thì không thật. Trong kinh Niết Bàn nói: Tri kiến lập tri là Vô Minh. Tri kiến vô kiến là Niết Bàn. Cái biết ban đầu mà thêm cái biết thứ hai là vô minh. Cái biết ban đầu mà không thêm gì nữa là Niết Bàn. Chúng sanh vì tâm phân biệt thương ghét, tốt xấu mà sinh phiền não. Phật dạy các Pháp là vô thường, vô ngã , khổ, không. Không một pháp tự có, phải nhiều yếu tố kết hợp mới thành, phải nương tựa nhau để tồn tại, kinh Hoa Nghiêm gọi “trùng trùng duyên khởi”. Muốn có một tờ giấy, phải có cây, có mặt trời, có đất, có nước, có người đốn đem về, có máy móc mới làm ra được tờ giấy. Tờ giấy chỉ là cái tên gọi. Vạn vật do nhân duyên sinh, đủ duyên thì có, hết duyên thì mất. Không có ai tạo ra. Nếu bảo phải có người tạo ra, vậy ai tạo ra người đó. Nếu chấp nhận cóù một đấng Tạo Hóa tạo ra muôn loài muôn vật. Khi chưa có vũ trụ đấng Tạo Hóa đứng đâu mà tạo. Tại sao không tạo ra đồng đều mà có sự bất công, có người giàu kẻ nghèo, người đẹp kẻ xấu, người thông minh kẻ dốt nát. Có trẻ mới lọt lòng chưa làm gì nên tội, đã tàn tật, câm điếc, mù lòa. Ðạo Phật lấy luật nhân quả để giải thích hiện tượng bất công trên thế gian, gieo nhân gì gặt quả đó, có như thế mới công bằng, và khuyến khích người ta làm lành lánh dữ, tự chủ, không lệ thuộc một thần linh nào khác. Nếu ta đặt câu hỏi ai sinh ta ra, ta trả lời cha mẹ ta sinh ra, và hỏi tiếp ai sinh cha mẹ ta? ông bà nội, và như thế mà hỏi tiếp, thì không cùng. Ðức Phật nói vạn pháp có mặt từ vô thủy và không có chung cuộc. Lấy con gà làm ví dụ. Con gà có từ trứng nở ra, trứng từ gà đẻ ra, trứng và gà cái nào trước, cái nào sau, không ai trả lời được. Tạo Hóa sinh ra muôn loài muôn vật, thì muôn loài muôn vật là sản phẩm của Ngài. Nếu con cái của Ngài khổ đau. Ngài có khả năng cứu mà không cứu, thì tỏ ra bất nhân. Nếu cứu không được là bất tài. Một đấng Tạo Hoá mà bất nhân, bất tài thì đáng được cho chúng ta sùng bái và thờ phượng không?

Phật nói mọi đau khổ đều có nguyên nhân của nó. Một hôm Phật thuyết, Ngài bảo:” Ái là nguyên nhân gây ra đau khổ”. Một ngoại đạo hỏi Phật “ Ái mang lại hạnh phúc tại sao bảo là khổ”. Phật không trả lời mà hỏi lại: Trong thôn ông có người chết không? và ông có khóc không? Kẻ ngoại đạo trả lời thôn tôi thỉnh thoảng có người chết nhưng tôi không khóc mà chỉ chia buồn với thân nhân người của chết thôi. Phật hỏi tiếp nếu trong nhà ông, vợ ông, con ông chết thì sao? Dĩ nhiên, tôi buồn, tôi khóc, tôi thương tiếc. Phật hỏi tạo sao vậy “Có phải do ái mà có khổ phải không?” Cũng trong kinh có kể một bà mẹ có đứa con duy nhất nhưng không may chết sớm, bà mẹ đau khổ ôm con đi khắp xóm làng xin cứu chữa cho con bà sống lại. Có người mách bà đến gặp Phật may ra Phật có thể cứu sống. Phật bảo bà đi đến nhà nào từ trước đến nay chưa có người chết, xin ít hạt cải về đây, ta sẽ cứu cho con bà sống lại. Nhưng bà đi suốt cả ngày, hỏi nhà nào cũng có người chết, không già thì trẻ. Bà liền giác ngộ lẽ vô thường, không chỉ dành riêng cho con bà. Rồi bà hết khổ, tự đi chôn cất con lấy và xin xuất gia với Phật.. Khi nhìn sự vật đúng như thật thì hết khổ . Vì vậy đạo Phật được gọi là đạo giác ngộ. Cũng như đi đêm thấy dây thừng tưởng con rắn, hoảng sợ la làng cầu cứu. Nhưng khi được soi sáng chỉ là sợi dây thừng thì hết sợ. Cũng vậy chúng ta lầm tưởng cái thân tứ đại này là thật ta, có cái ngã tưởng tượng trong đó, nên ai đụng chạm đến cái Ta là có chuyện, khen hả hê, mũi nở, chê thì mất ăn mất ngũ mấy ngày, đôi khi cả tuần. Chúng ta đọc tụng kinh Bát Nhã hằng ngày mà không chịu soi ngũ uẩn là giai không, như Bồ tát Quán Tự tại đã làm, để qua khỏi hết thảy mọi khổ ách.

Thư khá dài, Tâm Diêu xin dừng ở đây. Có điều gì chưa rõ, bạn hỏi lại, Tâm Diêu biết đến đâu sẽ giải thích đến đó cho bạn.

Chúc bạn chóng bình phục và gia đình mọi sự an lành đầu năm.

Thân

Tâm Diêu

© 2008 hoanghiempagoda.com

-- Tuệ Ngữ Của Đức Đạt Lai Lạt Ma Thứ 14
-- Tu Là Gì
-- Có Hạnh Phúc Là Có Tất Cả
-- Hãy Buông Ra
--Trọng Tâm Của Người Tu
--Công Đức Bát Quan Trai
--Đức Phật Là Bậc Vô Thượng Y Vương
--Phật Pháp Xây Dựng Thế Gian
-- Giới Thiệu Đường Lối Tu Thiền
--Nghiệp Báo Sai Biết
-- Lá Thư Cho Bạn
-- Khen Chê Không Thật (Nhặt lá Bồ Đề)
-- Tóm Lược Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
-- Quán Thế Âm Bồ Tát Là Huynh Đệ Của Chúng Ta
-- Năm Chữ "T"
-- Câu Cá Giải Trí Có Tạo Nghiệp Không?